Đáp án & giải thích DGNL đề lẻ
Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 18 - Tiếng Việt

DOL THPT
Mar 27, 2026
Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 18 - Tiếng Việt được thiết kế dưới dạng làm thử đề trắc nghiệm trực tuyến, hỗ trợ bạn nắm rõ cấu trúc đề thi. Nền tảng sẽ chấm điểm ngay sau khi bạn nộp bài, đồng thời ghi lại lịch sử làm bài để bạn dễ theo dõi lộ trình luyện tập, đồng thời đưa ra đáp án đúng giải thích chi tiết và tải file PDF đề thi miễn phí.

Đề ôn tập ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 18 - Tiếng Việt
Download PDF
Miễn phí dowload
Câu hỏi đề bài
30 Phần
Phần thi: Ngôn ngữ - Tiếng Việt
Dòng nào sau đây nêu đúng đặc trưng thể loại tục ngữ?
Khuyên nhủ bằng hình ảnh cụ thể, gợi bài học bền bỉ
Khái quát kinh nghiệm thành quy luật, lời ngắn gọn
Dùng cấu trúc cân xứng giúp dễ nhớ, dễ truyền miệng
Nêu quan hệ nhân quả để định hướng hành vi kiên trì
Trong các dấu hiệu sau, dấu hiệu ca dao trữ tình rõ nhất là:
Hình ảnh đời thường gợi tình cảnh bấp bênh, bất định
Nhịp điệu đều, ngắn gọn, thuận lợi truyền miệng
Mô-típ “thân em” + ẩn dụ thân phận, giàu cảm xúc
Giọng điệu than thở pha lo âu, nghiêng về tự bạch
Dấu hiệu nghị luận rõ nhất là:
Dùng từ ngữ khái quát tạo giọng văn trang trọng, trừu tượng
Đặt yêu cầu đối với đối tượng nhằm thể hiện lập trường
Quy tụ ý kiến để chốt tiêu chí chung mang tính định hướng
Nêu kết luận dưới dạng tiêu chuẩn để dẫn lập luận tiếp
Đặc trưng tản văn rõ nhất là:
Giọng thủ thỉ kéo người đọc vào khoảng cách gần
Cái tôi suy tư trực tiếp về viết và hiệu ứng tiếp nhận
Trạng thái chủ quan tạo chất tùy bút trong mạch văn
Ngôn ngữ hình ảnh để diễn đạt quan niệm hơn kể việc
Câu nào dưới đây hàm ý nội dung còn có điểm cần điều chỉnh?
Phần này đã được trình bày đầy đủ.
Đề nghị rà soát lại cách diễn đạt ở phần này.
Phần này cơ bản đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Phần này nhìn chung khá rõ ràng.
Trong câu “Nói vậy thôi, chứ chưa chắc đúng”, từ “chứ” chủ yếu dùng để:
Tăng mức độ khẳng định cho ý vừa nêu.
Điều chỉnh mức độ cam kết với ý vừa nêu.
Chuyển sang trình bày nguyên nhân sự việc.
Mở rộng ý theo hướng bổ sung thông tin.
Câu nào dễ bị xem là suy đoán động cơ tác giả?
Chi tiết này có thể gợi một ý phê phán.
Chi tiết này cho thấy tác giả cố tình mỉa mai.
Chi tiết này cần đặt trong bối cảnh toàn đoạn.
Chi tiết này cho phép cân nhắc nhiều cách hiểu.
Câu nào khái quát vượt quá dữ kiện được nêu?
Một số học sinh gặp khó khăn với dạng bài này.
Nhiều học sinh có thể gặp khó khăn với dạng bài này.
Học sinh đều gặp khó khăn với dạng bài này.
Không ít học sinh gặp khó khăn với dạng bài này.
Trong câu “Anh ấy chỉ mới thử viết thôi”, từ “chỉ” chủ yếu biểu thị:
Giới hạn phạm vi hoặc mức độ hành động.
Đánh giá thấp năng lực của người được nói.
So sánh kết quả với chuẩn mực chung.
Nhấn mạnh tính bất thường của sự việc.
Câu nào thể hiện cách góp ý mang tính học thuật nhất?
Bài này sai ở nhiều chỗ.
Bài này chưa đáp ứng yêu cầu.
Bài này còn một số điểm cần điều chỉnh.
Bài này làm chưa đúng hướng.
Câu nào tạo cảm giác khách quan hơn trong bài viết học thuật?
Tôi cho rằng lập luận này khá hợp lí.
Theo tôi, lập luận này tương đối ổn.
Lập luận này có thể xem là hợp lí trong bối cảnh X.
Lập luận này rõ ràng là đúng.
Câu nào mơ hồ về phạm vi áp dụng của “quy định”?
Quy định này áp dụng cho học sinh khối 12.
Quy định này áp dụng trong một số trường hợp.
Quy định này áp dụng cho toàn bộ học sinh.
Quy định này chỉ áp dụng trong học kì I.
Câu nào dễ dẫn đến suy luận “có dẫn chứng thì kết luận đúng”?
Có dẫn chứng thì lập luận dễ kiểm chứng hơn.
Có dẫn chứng thì lập luận đáng tin cậy hơn.
Có dẫn chứng thì kết luận đúng.
Có dẫn chứng thì lập luận thuyết phục hơn.
Trong câu “Có lẽ cách hiểu này còn thiếu một khía cạnh”, “có lẽ” thể hiện:
Sự né tránh trách nhiệm phát ngôn.
Thái độ dè dặt, giảm mức độ khẳng định.
Sự phủ định gián tiếp ý kiến trước.
Sự chuyển hướng sang nội dung khác.
Câu nào dưới đây không đảm bảo văn phong học thuật?
Hiện tượng này cần xem xét trong bối cảnh chung.
Hiện tượng này có thể lí giải từ nhiều góc độ.
Hiện tượng này rối thật.
Hiện tượng này chưa có cách giải thích thống nhất.
Câu nào thể hiện lập luận có điều kiện, tránh tuyệt đối hóa?
Có dữ liệu thì kết luận đúng.
Có dữ liệu thì có thể xem xét kết luận ở mức độ nhất định.
Có dữ liệu thì kết luận chắc chắn đúng.
Có dữ liệu là đủ để kết luận.
Câu nào mang tính áp đặt cách hiểu?
Có thể hiểu chi tiết này theo hướng A.
Một cách hiểu khác cũng cần được cân nhắc.
Không thể hiểu chi tiết này theo cách nào khác.
Cách hiểu này cần đặt trong toàn văn bản.
Cấu trúc “Không hẳn là sai, nhưng…” thường nhằm:
Bác bỏ hoàn toàn ý kiến vừa nêu.
Làm dịu mức độ phê bình để góp ý tiếp.
Tạo thế đối lập gay gắt giữa hai ý.
Khẳng định mạnh mẽ một kết luận mới.
Câu nào có cách góp ý mang sắc thái học thuật nhất?
Viết như vậy là không ổn.
Viết như vậy hơi thiếu thuyết phục.
Cách viết này cần xem lại về lập luận.
Viết như vậy là sai rõ ràng.
Câu nào dễ gây mơ hồ quan hệ nhân – quả?
Vì thời gian hạn chế, bài viết chưa hoàn chỉnh.
Bài viết chưa hoàn chỉnh do thời gian hạn chế.
Thời gian hạn chế khiến bài viết chưa hoàn chỉnh.
Thời gian hạn chế, bài viết chưa hoàn chỉnh.
Câu nào thể hiện ý thức giới hạn phát biểu của người viết?
Đây là kết luận duy nhất có thể chấp nhận.
Đây là một trong những cách hiểu có thể xem xét.
Đây chắc chắn là cách hiểu đúng.
Đây là cách hiểu ai cũng phải thừa nhận.
Câu nào dễ gây căng thẳng trong trao đổi học thuật?
Lập luận này cần bổ sung thêm dẫn chứng.
Lập luận này còn một số điểm cần làm rõ.
Lập luận này quá yếu và khó chấp nhận.
Lập luận này có thể điều chỉnh cho chặt chẽ hơn.
Trong câu “Tạm thời, ta có thể chấp nhận cách hiểu này”, từ “tạm thời” nhằm:
Khẳng định giá trị ổn định của kết luận.
Mở khả năng điều chỉnh ở các bước sau.
Phủ nhận giá trị của cách hiểu.
Chấm dứt việc tranh luận về vấn đề.
Câu nào có chức năng định nghĩa?
Phản biện là nhắc lại ý kiến của người khác, nếu cần thì phân tích, đánh giá và đối thoại.
Phản biện là tranh cãi để bảo vệ quan điểm và đối thoại dựa trên lí lẽ và bằng chứng.
Phản biện là quá trình phân tích, đánh giá và đối thoại dựa trên lí lẽ và bằng chứng.
Phản biện là kĩ năng cần thiết trong học tập, nêu cao tinh thần học hỏi, phản tư.
Question 25 - 30
.Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 25 đến 30
NHỮNG DÒNG CHỮ DIỆU KÌ
Ngày ấy, cu Minh còn bé xíu, chưa đi học. Tôi rất quý nó, vì nhà nó có cả một thư viện nhỏ. Ba nó là thầy giáo dạy văn trên tỉnh. Cuối tháng, ông mới về nhà nghỉ một hai hôm. Mỗi lần về, ba nó mang theo cả một cặp toàn sách và báo. Khi ba nó đi khỏi là tôi lò dò tìm đến. Chao ôi toàn truyện là truyện! Tôi đọc ngốn ngấu, quên cả ăn cơm. Còn cu Minh thì cứ dửng dưng như không có gì. Cũng phải thôi, vì nó đã biết đọc chữ gì đâu. Tôi bỗng thấy thương nó vô cùng. Vậy mà mỗi khi tôi gọi vào để đọc cho nghe thì nó cứ nhấp nha nhấp nhổm đứng ngồi không yên.
Chiều mùa hè, bọn trẻ chúng tôi mỗi đứa đều có một cánh diều để thả. Thằng Minh rất thích chơi diều. Nó thích nhất là chiếc diều của thằng Hải, vì chiếc diều đó luôn bay cao nhất và đẹp nhất. Chiều hôm ấy, tôi thấy Minh xoắn lấy Hải. Và hôm sau đã thấy Minh cầm chiếc diều đó trên tay. Lạ thật! Hải có cho ai cái gì đâu? Khi tôi hỏi Minh, thì nó toét miệng cười:
- Em đổi cho anh ấy cuốn truyện ngoài bìa có vẽ mấy chú lùn với cô công chúa đấy!
- Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn! - Tôi kêu lên tiếc rẻ.
- Gạ mãi anh ấy mới đổi đấy!
Nhìn cánh diều trên trời cao, tôi thấy tức thằng Minh quá. Nhưng truyện là của nhà nó chứ có phải của tôi đâu!
Vài ngày sau, bọn chúng tôi chuyển sang chơi phi máy bay. Những chiếc máy bay được gấp bằng đủ các loại giấy. Tôi thấy Minh vui lắm. Quả thật những chiếc máy bay của nó to và đẹp lạ lùng. Mỗi khi lao lên trời nó lượn rất lâu rồi mới đậu xuống đất. Bây giờ thì giải nhất thuộc về Minh rồi. Nó vừa cười vừa mang những chiếc máy bay đến khoe tôi. Hóa ra Minh đã xé những tờ báo để gập máy bay.
Tôi nhìn nó quát lên:
- Mày biết những tờ báo này in gì không hả?
Nó xị mặt rồi cũng cáu lại với tôi:
- Em không thích truyện, mà chỉ thích những chiếc máy bay này thôi!
- Rồi về ba mày sẽ cho mày một trận cho mà xem!
Tuần ấy ba Minh về và nó bị mấy roi quắn đít thật. Nó khóc tấm tức nói với tôi:
- Sách báo thì có chơi được đâu mà ba cứ bắt em giữ cơ chứ!
- Là vì như thế này…
Tôi kéo nó ngồi xuống và kể cho nó nghe những câu chuyện mà tôi đã đọc được trong những quyển sách, những quyển báo ở nhà nó. Chuyện về những chú lùn tốt bụng, nàng công chúa xinh đẹp, những cung điện, lâu đài dát vàng dát bạc…
Tôi thấy đôi mắt Minh sáng lên. Có lẽ nó không tin rằng từ những dòng chữ dày xít bé xíu kia tôi đã nhìn thấy tất cả những điều lung linh đó.
- Đến tuổi rồi, em phải chịu khó học đọc, học viết đi, rồi em cũng sẽ tự đọc được những câu chuyện hay, tự mình nhìn thấy những hoàng tử công chúa, tự mình phiêu lưu với những con sóng trên biển khơi hay tự mình cất cao đôi cánh trên bầu trời bao la mà không cần anh dẫn đi nữa…
Minh gật đầu. Và từ bữa đó, hôm nào tôi cũng đến nhà nó, tìm những cuốn truyện hay nhất trên giá sách đọc cho nó nghe. Tất nhiên là chính tôi rất mê những câu chuyện trong ấy…
(Nguyễn Phan Khuê, Những con chữ kì diệu, NXB Kim Đồng)
Tình huống nào làm câu chuyện “bật” lên rõ nhất?
Ba Minh mỗi lần về lại mang theo sách báo
“Tôi” mê đọc nên hay lân la sang nhà Minh
Minh đem sách đổi diều rồi xé báo gấp máy bay
Nhà Minh có một góc thư viện nhỏ
Chi tiết nào “đắt” nhất, giúp người đọc hiểu ra ý nghĩa câu chuyện?
Chiếc diều của Hải luôn bay cao nhất
Minh xé báo để gấp máy bay
“Tôi” đọc truyện quên cả ăn cơm
Ba Minh là thầy giáo dạy Văn
Việc tác giả chọn ngôi kể thứ nhất có tác dụng:
Giữ giọng kể khách quan, ít cảm xúc
Kể lại câu chuyện từ nhiều điểm nhìn khác nhau
Bao quát toàn bộ sự việc như người kể toàn tri
Dẫn dắt cảm xúc và cách hiểu của người đọc theo “tôi”
Mâu thuẫn chính của truyện xoay quanh điều gì?
Minh và Hải tranh nhau chiếc diều
Ham chơi của trẻ và giá trị của chữ nghĩa
“Tôi” bực Minh vì dám động vào sách báo
Minh bị ba đánh vì làm hỏng sách báo
Từ lời kể, có thể thấy truyện được triển khai theo mạch nào?
Giới thiệu bối cảnh, gợi mâu thuẫn, nối tiếp bằng các hồi tưởng đan xen
Gợi va chạm ban đầu, đẩy nhanh cao trào, rồi lùi lại lí giải nguyên nhân
Giới thiệu bối cảnh, nảy sinh va chạm, xuất hiện bước ngoặt và đi đến tháo gỡ
Triển khai hai mạch sự việc song song, phát triển độc lập rồi hội tụ cuối truyện
Trong câu “Tôi đọc ngốn ngấu, quên cả ăn cơm”, “ngốn ngấu” được hiểu là:
Đọc nhanh, say mê đến quên giấc sinh hoạt
Đọc nhiều, bền bỉ trong thời gian dài
Đọc gấp để kịp hoàn thành cho xong
Đọc tập trung theo thói quen sẵn có
Kết thúc nhóm câu Question 25 - 30
Xem đáp án và bài mẫu
Answer key
Dòng nào sau đây nêu đúng đặc trưng thể loại tục ngữ?
Khuyên nhủ bằng hình ảnh cụ thể, gợi bài học bền bỉ
Khái quát kinh nghiệm thành quy luật, lời ngắn gọn
Dùng cấu trúc cân xứng giúp dễ nhớ, dễ truyền miệng
Nêu quan hệ nhân quả để định hướng hành vi kiên trì
Giải thích câu 1
Giải thích chi tiết
✅ Đáp án: B. Khái quát kinh nghiệm thành quy luật, lời ngắn gọn
🔎 Lí do:
✔️ Phân tích yêu cầu: chỗ trống cần một đặc trưng tổng quát của thể loại tục ngữ — mô tả chức năng và hình thức ngắn gọn.
✔️ Ngữ cảnh/ý nghĩa: từ khóa "đặc trưng thể loại tục ngữ" hướng tới tính chất chung, không chỉ kỹ thuật tu từ hay mục đích răn dạy cụ thể.
✔️ Vì sao chọn B: Khái quát kinh nghiệm thành quy luật (chức năng chính của tục ngữ) + lời ngắn gọn (hình thức đặc trưng). Kết hợp này khớp tự nhiên với định nghĩa tục ngữ và là collocation thường gặp: "tục ngữ khái quát kinh nghiệm", "tục ngữ ngắn gọn, súc tích".
🚨 Những đáp án còn lại thì sao?
❌A. Khuyên nhủ bằng hình ảnh cụ thể, gợi bài học bền bỉ: chỉ nêu một phương thức biểu đạt (dùng hình ảnh, khuyên nhủ), không phải đặc trưng cốt lõi; tục ngữ thường khái quát chứ không chỉ "gợi bài học bền bỉ".
❌C. Dùng cấu trúc cân xứng giúp dễ nhớ, dễ truyền miệng: đúng là một thủ pháp tu từ thường gặp (cân xứng), nhưng là đặc điểm hình thức phụ, không bao quát chức năng chính của tục ngữ.
❌D. Nêu quan hệ nhân quả để định hướng hành vi kiên trì: quá cụ thể và mang tính mục đích chủ quan; tục ngữ không luôn nhấn mạnh "nhân quả" hay "kiên trì" mà là khái quát kinh nghiệm sống nói chung.


