Đáp án & giải thích DGNL đề lẻ
Đề thi thử ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 01 - Tiếng Việt

DOL THPT
Apr 22, 2026
Đề thi thử ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 01 - Tiếng Việt được xây dựng dưới dạng làm thử đề trắc nghiệm trực tuyến, hỗ trợ bạn nắm rõ bố cục đề thi. Hệ thống sẽ chấm điểm ngay sau khi bạn hoàn thành bài thi, đồng thời cũng ghi lại lịch sử làm bài để bạn thuận tiện theo dõi tiến độ luyện thi, đồng thời đưa ra đáp án đúng có giải thích rõ ràng và tải PDF đề thi miễn phí.

Đề thi thử ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 01 - Tiếng Việt
Download PDF
Miễn phí dowload
Câu hỏi đề bài
30 Phần
Phần thi: Ngôn ngữ - Tiếng Việt
Nội dung của văn bản dưới đây là gì?
“Cảnh chọc trời là con đầu
Tên gọi ông Thu Tha
Cành búng xung là con thứ hai
Tên gọi bà Thu Thiên
Hai ông bà nên đôi nên lứa
Truyền cho: Con gà cồ cựa
Dây dưa biết leo
Tre pheo có gai, có ngọn
Con người biết nói.”
(Sử thi dân tộc Mường, Đẻ đất đẻ nước)
Giải thích nguồn gốc trời và đất.
Giải thích đặc điểm các loài.
Giải thích nguồn gốc bản làng.
Giải thích nguồn gốc phong tục.
Chi tiết “Ngọc Hoàng mới gạn lấy chất trong, tinh túy rồi nặn ra một giống vật khác công phu hơn” có nghĩa là gì?
“Đây nói chuyện Ngọc Hoàng, từ lúc mọi công việc kiến thiết vũ trụ đã xong mới bắt đầu nghĩ đến chuyện sáng tạo ra vạn vật. Không hiểu Ngọc Hoàng làm như thế nào nhưng chỉ nghe nói rằng ông ta trước hết dùng những chất cặn còn sót lại trong trời đất, nặn ra đủ mọi giống vật từ những con to lớn như voi, tê ngưu, cọp đến những vật bé tí như sâu, kiến, bò, trùng, v.v… Sau đó, Ngọc Hoàng mới gạn lấy chất trong, tinh túy rồi nặn ra một giống vật khác công phu hơn. Đó là loài người. Và cũng vì thế mà người ta khôn hơn vạn vật.”
(Nguyễn Đổng Chi, Mười hai bà mụ)
Loài người là giống loài được sáng tạo một cách công phu từ chất trong, tinh túy.
Loài người là giống loài được tạo ra sau cùng và đồng chất với mọi loài, mọi vật.
Loài người là một hợp chất trong lành và tinh túy giống như mọi loài, mọi vật.
Loài người là sự sáng tạo thông thái của Ngọc Hoàng từ những chất còn sót lại.
Xác định thể thơ của văn bản trên.
“Tuổi đã ngoại tám mươi già,
Thoắt thoắt xem bằng bóng ngựa qua.
Mai bạc lạnh quen nhiều tháng tuyết,
Cúc vàng thơm đổi mấy phen hoa.
Sang có phận, là ơn chúa,
Được làm người, bởi đức cha.
Am quán ngày nhàn, rời mọi việc,
Dẫu ai tự tại, mặc dầu ta.”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân quốc ngữ thi)
Thất ngôn xen lục ngôn.
Thất ngôn xen ngũ ngôn.
Thất ngôn tứ tuyệt.
Lục ngôn bát cú.
Dòng nào sau đây không thể hiện đặc trưng hình thức nghệ thuật của văn bản trên?
“… Bà phu nhân nói: […] Những cuộc gặp gỡ hiếm lạ, đời nào mà không có: như đền Bạc hậu, như quán Cao đường, như thần Lạc phó lướt sóng, như nàng Giang Phi cởi ngọc, như Lộng Ngọc lấy Tiêu Sử, như Thái Loan gặp Văn Tiêu, như Lan Hương gặp Trương Thạc… Bao nhiêu những chuyện cũ còn sơ sơ đó, nếu thế này mà bị chê cười thì đã có những người trước ấy họ chịu đỡ tiếng cười cho mình. Mọi người cùng phá lên cười rất vui vẻ. Rồi đó mặt trời gác núi, các khách khứa đều giải tán cả.”
(Nguyễn Dữ, Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên)
Sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa.
Dùng nhiều điển tích, điển cố.
Tổ chức theo cấu trúc biền văn.
Sử dụng biện pháp tu từ liệt kê.
Dòng nào sau đây không thể hiện cảm xúc và tư tưởng của văn bản?
“Ôi! Trời Bến Nghé mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng gặp thuở gian truân, Đất Gò Công cây cỏ ủ ê, cảm niềm thần tử mắc nơi họa hại. Xưa còn làm tướng, dốc rạng đôi hai chữ bình Tây, Nay thác về thần, nền vung hô một câu phục thái. Hỡi ôi thương thay!”
(Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế Trương Định)
Tiếc thương cho sự hy sinh vì nước vì dân của đấng anh hùng.
Cảm thương trước tai họa mà đấng anh hùng mắc phải.
Tin vị anh hùng sống làm tướng đánh giặc, thác theo thần giúp đỡ nhân dân.
Xót xa cho trời Bến Nghé, đất Gò Công hoang tàn trong cơn binh biến.
Người kể chuyện trong văn bản trên sử dụng điểm nhìn trần thuật nào?
“Đời bộ đội của tôi đã bước những bước đi đầu tiên trong các cánh rừng cằn cỗi vùng Bãi Nai. Ba tháng trời dài gió dầm mưa trên thao trường đã giúp chúng tôi gột sạch mọi tàn tích của nếp sống thị thành và trụ vững bản thân mình vào đời ngũ. Chúng tôi tập deo sạch hành quân, tập lăn lê trườn toài, tập nằm thở bóp cò, tập bám trụ chiến hào, tập vọt tiến tấn công, tập đâm lê, tập quẳng lựu đạn, tập nhồi bộc phá, tập tuân lệnh chỉ huy và tập bền bỉ chịu khổ.”
(Bảo Ninh, Đêm trừ tịch)
Điểm nhìn của nhân vật.
Điểm nhìn của ngôi thứ ba toàn tri.
Điểm nhìn của người thứ ba.
Điểm nhìn của ngôi thứ hai.
Chủ thể trữ tình trong đoạn thơ sau đây là:
“Nhớ cát là nỗi nhớ của tôi
Nhắm mắt lại thấy một màu trắng xóa
Trơ trụi đến những ngôi nhà lợp có
Gió cát bào tróc vỏ những hàng dương
Không tìm đâu láy một con đường
Chỉ có cát phủ mình dưới nắng
Chỉ có cát nghiêng về phía sông
Như tấm lòng tôi ngóng những thuyền xa”
(Xuân Quỳnh, Nhớ cát)
nỗi nhớ của tôi.
cát.
tôi.
tấm lòng tôi.
Dòng nào dưới đây chưa các biện pháp tu từ xuất hiện trong văn bản trên?
“Nước ở đâu mà tuôn mãi không thôi. Nước rùng rào rào trên lá. Nước tràn trên mặt đất. Nước chảy theo những thân cây. Rừng vớt sũng, đất vớt sũng, và trời mãi cũng chẳng thấy khô hơn. Mới xế chiều mà rừng đã muốn tối om. Rừng như xỉ ra. Mặt trời vẫn còn đâu đó giữa đường chân trời. Nó đang thôi hồng một đám mây màu xám chì, giống như đồng trâu ù giữa sương mù đặc sệt.”
(Chu Lai, Nắng đồng bằng)
Phép điệp, so sánh, phóng đại.
Phép điệp, hoán dụ, so sánh.
Phép điệp, nói giảm, nói tránh, so sánh.
Phép điệp, so sánh, nhân hóa.
Đoạn đối thoại dưới cho thấy mục đích chính khiến ông Giuốc-đanh học âm nhạc là gì?
“Thầy nhạc: Thưa ngài, đáng lẽ ngài phải học âm nhạc, cũng như ngài đang học khiêu vũ. Đó là hai ngành nghệ thuật có liên quan chặt chẽ với nhau. Thầy múa: Và nó mở mang trí não cho con người hiểu biết những cái đẹp. Ông Giuốc-đanh: Thế những người sang trọng cũng có học âm nhạc chứ? Thầy nhạc: Thưa ngài có chứ. Ông Giuốc-đanh: Thế thì tôi sẽ học. Nhưng tôi không biết tôi có thể học vào thì giờ nào vì, ngoài thầy dạy kiếm thuật đến chỉ dẫn cho tôi, tôi lại còn mướn một thầy dạy triết lý, sáng hôm nay bắt đầu đây.”
(Mô-li-e, Trưởng giả học làm sang)
Ông Giuốc-đanh muốn thể hiện niềm đam mê với âm nhạc.
Ông Giuốc-đanh muốn mở mang hiểu biết về cái đẹp.
Ông Giuốc-đanh muốn trở thành người sang trọng.
Ông Giuốc-đanh muốn giỏi âm nhạc như giới kiếm thuật và triết lý.
Dòng nào sau đây không nêu đúng phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh được biểu hiện trong bài thơ trên?
“Thừa chu thuận thủy vàng Ung Ninh Hình điều thuyền lạn tự giao hình Lưỡng ngạn hương thôn trù mãi thậm Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.”
(Hồ Chí Minh, Bán lộ thập thuyền phó Ung)
Dịch thơ:
“Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh
Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình
Làng xóm ven sông đông đúc thế
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.”
(Nam Trân dịch, Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh)
Phong thái ung dung, tự tại.
Tinh thần lạc quan, yêu đời.
Tính chất bi tráng, hào hùng.
Màu sắc cổ điển kết hợp hiện đại.
Nội dung của văn bản dưới đây là gì?
“Tôi vừa bỏ học sau học kỳ ‘đùi kinh nấu sử’ ở trường Luật. Suốt thời gian đó, sở thích duy nhất của tôi là đọc sách. Tôi có thể đọc ngấu nghiến bất cứ cuốn sách nào vô được và học thuộc lòng những bài thơ đọc đảo của Thế kỷ vàng Tây Ban Nha. Tôi đã đọc hầu hết các bản dịch cũng như nguyên bản các tác phẩm được coi là nổi tiếng lúc bấy giờ và những cuốn sách đó đã cho tôi hiểu được kỹ năng cũng như các tiểu xảo cần có khi viết tiểu thuyết.”
(Gabriel Garcia Marquez, Sống để kể lại)
Niềm đam mê học Luật và lối học "đùi kinh nấu sử" ở người viết.
Niềm đam mê đọc sách và tình yêu văn chương ở người viết.
Niềm đam mê sáng tác thơ ca và tiểu thuyết ở người viết.
Niềm đam mê đọc các bản dịch và nguyên tác ở người viết.
Dòng nào sau đây nêu đúng những tác phẩm cùng phong cách sáng tác của trường phái văn học hiện thực?
Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Chí Phèo (Nam Cao).
Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Giông tố (Vũ Trọng Phụng), Lão Hạc (Nam Cao).
Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng).
Lão Hạc (Nam Cao), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân).
Dòng nào dưới đây có các từ viết đúng chính tả?
Sai xót, sơ suất, sừng sộ.
Sai xót, sơ xuất, sừng sộ.
Sai sót, sơ xuất, sừng xộ.
Sai sót, sơ suất, sừng sộ.
Câu nào dưới đây chứa từ viết sai chính tả?
Sở Giao thông Vận tải kiến nghị xây kè chống sạt lở hai đoạn bờ sông ở thành phố này.
Những chính sách đó quá xa vời thực tế, quá viễn vông nên rất khó được phê duyệt.
Trầm cảm là kẻ thù giấu mặt đối với sức khỏe tinh thần lẫn thể chất của con người.
Anh Phụng và nhóm bạn đã dành năm ngày để đi bộ đến hồ axit lớn nhất thế giới.
Từ nào bị dùng sai trong câu trên?
“Theo tôi, đó là lối giáo dục đứng đắn, đích thực của việc dạy; người dạy sẽ làm đúng vai trò của
mình hơn, nhất là biết khiêm cung hơn.”
đứng đắn.
đích thực.
vai trò.
khiêm cung.
Xác định lỗi sai trong câu trên.
“Những mái nhà đơn sơ, giản dị nơi thâm sâu cùng cốc của tỉnh Lào Cai nằm sát bên mép núi.”
Sai về dùng từ.
Sai ngữ pháp.
Sai quy chiếu.
Sai logic.
Câu nào dưới đây là câu đúng?
Sự đồng hành, bên cạnh lẫn nhau là minh chứng rõ nhất cho tình yêu sâu đậm.
Giải pháp này như cứu cánh nhóm chúng tôi trong lúc bế tắc.
Yếu điểm của tôi vẫn là sự thiếu tự tin khi đứng trước đám đông.
Qua đó, ta càng thấy học vấn uyên bác và tầm nhìn xa rộng của anh.
Câu trên là câu chưa hoàn chỉnh vì thiếu thành phần nào sau đây?
“Để đánh dấu bước ngoặt mới về phát triển thị trường tại các quốc gia Đông Nam Á”.
Thiếu chủ ngữ.
Thiếu vị ngữ.
Thiếu trạng ngữ.
Thiếu nòng cốt câu.
Nhận định nào về câu trên là đúng?
“Chúng tôi đã thảo luận về dự án này hai lần: một lần vào năm ngoái, một lần ngay tại văn phòng đại diện của công ti ở phía Nam.”
Câu sai logic ngữ nghĩa.
Câu mắc lỗi dùng từ.
Câu sai cấu tạo ngữ pháp.
Câu mắc lỗi dấu câu.
Chỉ ra câu sai trong các câu sau:
Do tình cảm chân thành, gần gũi của các anh chị khiến Khang gắn bó với nhóm hơn.
Nhờ có những tình cảm chân thành, gần gũi của các anh chị, Khang gắn bó với nhóm hơn.
Những tình cảm chân thành, gần gũi của các anh chị làm cho Khang gắn bó với nhóm hơn.
Đáp lại những tình cảm chân thành, gần gũi của các anh chị, Khang gắn bó với nhóm hơn.
Question 21 - 25
.Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 21 đến 25
Biên đổi khí hậu đang được dự báo sẽ làm gia tăng hạn hán, qua đó làm trầm trọng thêm tình trạng xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Vậy sự kết hợp giữa hai yếu tố này sẽ tác động trực tiếp như thế nào đến sự tồn tại của nông dân ĐBSCL, những người chủ yếu có sinh kế phụ thuộc vào việc trồng lúa?
M. A. van Aalst và các cộng sự ở Trường Kinh doanh và Kinh tế, Đại học Vrije Amsterdam, đã đặt câu hỏi này vào cả vùng ĐBSCL và xem xét mức độ tổn thương ở các mức quy mô khác nhau, cả cấp quận, cấp xã và cấp hộ gia đình. Giải thích vì sao lại chọn ĐBSCL, các nhà nghiên cứu cho rằng đây là điểm nóng về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và môi trường. Trong cả thập kỷ qua, vùng này đã trải qua những thay đổi môi trường ở tốc độ nhanh và chậm, như nước biển dâng, lũ lụt, xâm nhập mặn và hạn hán trong khi nguồn sống của 75% cư dân phụ thuộc vào nông nghiệp. Sản phẩm nông nghiệp chiếm vị thế chủ đạo của ĐBSCL là lúa, vốn dễ bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Họ tập trung vào giai đoạn 2015-2016, khi cả đồng bằng phải gánh chịu đợt hạn hán khốc liệt nhất trong lịch sử, đồng thời còn phải trong cảnh dòng chảy từ thượng nguồn xuống thấp hơn 65 đến 70% so với trung bình hằng năm.
Sử dụng các mô hình tính toán, họ phát hiện ra mức độ dễ bị tổn thương ở cấp độ huyện và xã có những điểm khác biệt. Ở cấp huyện, mặc dù có mối liên hệ giữa nghèo đói và thất thu vụ mùa nhưng không có chỉ dấu trực tiếp giữa sự phơi nhiễm xâm nhập mặn với nghèo đói, mặc dù thông thường xâm nhập mặn sẽ góp phần làm giảm năng suất thu hoạch với tỉ lệ xấp xỉ 21%.
Ở cấp xã, mối liên hệ này thể hiện tương đối rõ nét. Các xã nghèo hơn và bị xâm nhập mặn nhiều hơn đều phải hứng chịu cảnh bị mất mát mùa vụ ở mức cao trong cùng năm. Do đó, các cộng đồng nghèo sẽ có mức độ tổn thương do tác động trực tiếp của môi trường cao hơn, điều vẫn còn chưa thể hiện rõ ở cấp huyện.
Ở cấp hộ gia đình, các hộ sống trong khu vực nghèo sẽ phải đối mặt với khả năng mất mùa cao hơn. Mối quan hệ này chứng tỏ hiệu ứng này thậm chí còn mạnh hơn ở những nơi chịu xâm nhập mặn cao, chỉ dấu là những hộ sống ở khu vực thịnh vượng hơn đều có năng lực thích ứng tốt hơn. Các mô hình cũng cho thấy mức độ rủi ro cao hơn ở cấp hộ gia đình có liên quan đáng kể với mức độ giáo dục thấp hơn, tài sản thấp hơn và quy mô canh tác nhỏ hơn.
(Theo Anh Vũ, Tính dễ bị tổn thương và khó phục hồi của nông dân ĐBSCL trong hạn hán)
Bao nhiêu % cư dân ĐBSCL có nguồn sống phụ thuộc vào nông nghiệp?
21%
65-70%
50%
75%
Vì sao nhóm nghiên cứu chọn ĐBSCL là địa phương để khảo sát biến đổi khí hậu?
Vì ĐBSCL là một đồng bằng quan trọng của cả nước.
Vì ĐBSCL là điểm nóng về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và môi trường.
Vì ĐBSCL có mức độ tổn thương ở các mức quy mô khác nhau.
Vì ĐBSCL gánh chịu đợt hạn hán khốc liệt nhất trong giai đoạn 2015-2016.
Những tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường sinh thái ĐBSCL là gì?
Nước biển dâng, lũ lụt, xâm nhập mặn và hạn hán.
Xói mòn, lũ lụt, hạn hán và hiệu ứng nhà kính.
Phơi nhiễm xâm nhập mặn và giảm đa dạng sinh học.
Xói mòn, hạn hán, nước biển dâng và xâm nhập mặn.
Cụm từ “Ở cấp huyện” trong câu trên là thành phần gì của câu?
Khởi ngữ.
Trạng ngữ.
Vị ngữ.
Chủ ngữ.
Chủ đề chính của văn bản trên là gì?
Những biểu hiện của biến đổi khí hậu ở ĐBSCL.
Hậu quả của hiện tượng xâm nhập mặn ở ĐBSCL.
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến thiên nhiên ĐBSCL.
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đời sống người dân ĐBSCL.
Kết thúc nhóm câu Question 21 - 25
Question 26 - 30
.Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 26 đến 30
Càng chung sống lâu năm với nghề viết, tôi càng tin rằng văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung không nhằm và cũng không có khả năng phản ánh cuộc đời y như nguyên trạng (1). Ngay cả nhiếp ảnh là nghệ thuật gần với sự trung thực nhất cũng không thể phản ánh được mặt sau của quả táo (2). Nhưng ngay cả khi có thể mô tả cuộc đời như nó vốn là, văn chương cũng từ chối làm điều đó (3). Bởi nếu vậy, văn chương sẽ không có lí do để tồn tại: người đọc khôn ngoan sẽ đọc trực tiếp trong cuộc đời thay vì nhìn vào trang sách (4). Suy cho cùng, thế giới mà người đọc tìm thấy và muốn thấy trong những trang văn bao giờ cũng là thế giới đã được lọc qua tâm hồn của người viết; đó là thế giới đã được nhà văn tháo ra và lắp lại theo một cấu trúc và tỉ lệ hoàn toàn khác (5). Thông qua cung cách thiết kế cái thế giới văn chương đó, nhà văn gửi đi những thông điệp và tìm kiếm sự chia sẻ (6). Những thông tin đủ loại của đời thường, đã có báo chí, đài truyền hình và bà hàng xóm cung cấp (7). Người đọc thông minh bao giờ cũng chờ đợi ở những trang văn một hiện thực khác - một hiện thực cao hơn so với hiện thực ngoài kia (8).
(Nguyễn Nhật Ánh, Cảm ơn người lớn)
“Càng … càng…” ở câu (1) của văn bản trên thể hiện mối quan hệ gì giữa các thành phần câu?
Nhân quả.
Chính phụ.
Hô ứng.
Đẳng lập.
Từ “cung cách” trong câu (6) có nghĩa là gì?
Cách thức giao tiếp giữa con người với con người.
Cách thức thể hiện thái độ ứng xử của con người.
Cách thức con người suy tư, hồi tưởng về quá khứ.
Cách thức tiến hành sự việc có thể quan sát được.
Với cách diễn đạt “một hiện thực cao hơn so với hiện thực ngoài kia” trong câu (8), tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì?
Liệt kê.
Nhân hóa.
Chơi chữ.
Chêm xen.
Ý nào sau đây không được đề cập trong văn bản trên?
Văn chương phản ánh đa dạng hiện thực đời sống.
Nhiếp ảnh cũng không thể phản ánh đầy đủ hiện thực đời sống.
Nhà văn luôn tìm kiếm sự chia sẻ thông qua tác phẩm.
Người đọc thông minh xem văn chương là hiện thực đời sống.
Quan điểm của người viết thể hiện trong văn bản trên là gì?
Văn chương không nhằm và không có khả năng phản ánh đời sống như nguyên trạng.
Văn chương hướng đến đem mơ ước từ trung thực và đầy đủ về cuộc đời như nó vốn là.
Văn chương có lối tồn tại riêng của nó: phục vụ độc giả thông minh.
Văn chương có cách thiết kế tương đồng với cấu trúc và tỉ lệ của hiện thực đời sống.
Kết thúc nhóm câu Question 26 - 30
Xem đáp án và bài mẫu
Answer key
Nội dung của văn bản dưới đây là gì?
“Cảnh chọc trời là con đầu
Tên gọi ông Thu Tha
Cành búng xung là con thứ hai
Tên gọi bà Thu Thiên
Hai ông bà nên đôi nên lứa
Truyền cho: Con gà cồ cựa
Dây dưa biết leo
Tre pheo có gai, có ngọn
Con người biết nói.”
(Sử thi dân tộc Mường, Đẻ đất đẻ nước)
Giải thích nguồn gốc trời và đất.
Giải thích đặc điểm các loài.
Giải thích nguồn gốc bản làng.
Giải thích nguồn gốc phong tục.
Giải thích câu 1
Giải thích chi tiết
✅ Đáp án: Giải thích đặc điểm các loài. 🔎 Lí do: ✔️ Đoạn trích này mô tả nguồn gốc của các loài vật và con người, tập trung vào đặc điểm và khả năng của chúng. ✔️ "Con gà cồ cựa", "dây dưa biết leo", "tre pheo có gai, có ngọn", "con người biết nói" đều là những chi tiết đặc tả đặc điểm. 🚨 Những đáp án còn lại thì sao? ❌ Giải thích nguồn gốc trời và đất: Mặc dù có nhắc đến ông Thu Tha (trời) và bà Thu Thiên (đất), nhưng nội dung chính là về các loài. ❌ Giải thích nguồn gốc bản làng: Không có chi tiết nào liên quan đến bản làng. ❌ Giải thích nguồn gốc phong tục: Không có chi tiết nào liên quan đến phong tục.


