Đáp án & giải thích DGNL đề lẻ
Đề thi thử ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 02 - Tiếng Việt

DOL THPT
Apr 22, 2026
Đề thi thử ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 02 - Tiếng Việt được thiết kế dưới hình thức làm thử đề trắc nghiệm trực tuyến, giúp bạn làm quen format đề. Hệ thống sẽ chấm điểm ngay sau khi bạn làm xong bài, đồng thời ghi lại lịch sử làm bài để bạn thuận tiện theo dõi tiến độ luyện thi, đồng thời đưa ra đáp án có giải thích rõ ràng và tải file PDF đề thi miễn phí.

Đề thi thử ĐGNL ĐHQG TP.HCM năm 2025 - Mã đề 02 - Tiếng Việt
Download PDF
Miễn phí dowload
Câu hỏi đề bài
30 Phần
Phần thi: Ngôn ngữ - Tiếng Việt
Motif “chiến đấu giành lại vợ” là đặc trưng của dòng văn học nào?
Truyện thơ.
Thần thoại.
Sử thi.
Tuồng, chèo.
Nhân vật Thị Phương trong vở chèo Trương Viên lúc hoà bình động viên chồng thi cử; khi chiến tranh chăm sóc mẹ, đi tìm chồng. Thị phương thuộc kiểu nhân vật gì?
Lão.
Kép.
Đào lẳng.
Đào thương.
“Đường tác hợp trời kia run rủi,
Trốn làm sao cho khỏi nhân tình.
Thôi thôi ngoảnh mặt làm thinh,
Thử xem con tạo gieo mình nơi nao?”
(Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm)
Từ “con tạo” trong đoạn thơ trên có ý nghĩa gì?
Số trời.
Con người.
Thiên nhiên.
Cuộc sống.
“Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.”
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Cụm “bỉ sắc tư phong” trong đoạn thơ trên được hiểu là:
Thói đời ghen ghét.
Cái này ít cái kia nhiều.
Có nhan sắc phải chịu phong trần.
Quy luật thăng trầm của số phận.
“Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?”
(Nguyễn Khuyến, Thu vịnh)
Đoạn thơ trên sử dụng biện pháp tu từ gì?
Điệp cấu trúc.
So sánh.
Hoán dụ.
Nói quá.
“Rít xong một mồi thuốc lào, lão trở nên hoàn toàn tỉnh táo, và càng tỉnh ra, càng ngồi suy nghĩ, cái ý niệm lẫn lộn giữa mình và con bò lại cứ trở về lởn vởn trong trí óc lão. Lão nhớ lại cánh rừng ở trong giấc mơ với toà lá xanh thẫm, cây lim lẫn thông già mọc trên vách đá, những con bò hoang dã đi đứng trên vỉa núi đá đầy cheo leo hoặc bình yên gặm cỏ giữa những khoảng rừng bằng ngập đầy nắng.
Trong đàn bò kia đã từng có mặt lão, cái dáng dấp thong dong và thư thái nhất trần đời của lão.
Chuyện này giá có đem kể lại, chắc chả có một người nào tin. Thế rồi đột nhiên lão Khúng đi đến một quyết định đầy điên rồ: lão quyết định giải thoát con vật! Tự nhiên lão thấy lão đang làm một công việc vô cùng vô nhân đạo. Cả một đời con vật nai lưng ra kéo cày để nuôi sống gia đình lão, và bây giờ lão đền ơn trả nghĩa cho con vật bằng việc đem bán nó cho người ta giết thịt? Lão thấy lão không còn là giống người nữa chứ còn đâu nửa người nửa thú vật? Một lát sau lão không lên án, tự xỉ vả mình nữa mà chỉ thấy trong người mình một cái nhu cầu đầy bức bách tự giải thoát.”
(Nguyễn Minh Châu, Phiên chợ Giát)
Nguyên nhân sâu xa nào dẫn đến sự thay đổi về suy nghĩ và hành động của nhân vật:
Lão sợ mọi người không tin vào giấc mơ của mình.
Lão thấy mình “nửa người nửa thú”, cảm nhận sự mâu thuẫn trong bản thân.
Lão đau khổ và muốn “tự giải thoát” bản thân.
Lão nhận ra sự vô nhân đạo trong hành động của mình.
“NGUYỄN TRÃI: - Thưa cụ, còn đến bao giờ? Máu người đã thành sông, nước mắt người bốn bề như biển sóng, cứ như vậy đến bao giờ?
ÔNG GIÀ: - Nước càng tuôn đến, biển càng cả… Đất một chồng thêm, núi một cao…
NGUYỄN TRÃI: - Vận nước như thế nào, đường đi hướng nào, xin cụ cho biết!
ÔNG GIÀ: - Khó bền… Mạnh gắng… Khôn ngay… Khéo đầy…
NGUYỄN TRÃI: - … Khó phải bền, mạnh ở gắng, khôn khéo nơi ngay đầy…
ÔNG GIÀ: - … Có mống tự nhiên lại có cây… (Chỉ lên trăng sao biến đi)”
(Nguyễn Đình Thi, Chuyện Nguyễn Trãi ở Đông Quan)
Nội dung nào không đúng với đoạn trích trên?
Nhân vật ông già đại diện cho yếu tố tâm linh huyền bí.
Bối cảnh câu chuyện diễn ra trên không gian sông nước.
Ngôn ngữ đối thoại mang tính triết lí và cô đọng.
Các câu hỏi thể hiện nỗi trăn trở về vận nước của Nguyễn Trãi.
Phiên âm:
“Giải quá Quảng Tây thập tam huyện,
Trú liễu thập bát cá giam phòng;
Thí vấn dư sở phạm hà tội?
Tội tại vị dân tộc tận trung!”
Dịch nghĩa:
“Quảng Tây giải khắp mười ba huyện,
Mười tám nhà lao đã ở qua;
Phạm tội gì đây? Ta thử hỏi,
Tội trung với nước, với dân à?”
(Hồ Chí Minh, Đáo đệ tứ chiến khu Chính trị bộ)
Ý nào sau đây không đúng với nội dung đoạn thơ?
Khẳng định lòng yêu nước, tận trung với dân tộc.
Tự bạch về những khó khăn vất vả nơi nhà giam.
Thể hiện cái nhìn chiêm nghiệm về con người và cuộc sống.
Kể về việc tù đày qua mười ba huyện Trung Quốc.
Chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống trong câu sau:
_______ đề cao sự sáng tạo, tính cá thể, cái tôi riêng của tác giả. Trong khi _______ chú trọng tính tập thể, cộng đồng và giá trị truyền thống.
Văn học viết - văn học dân gian.
Văn học viết - văn học viết.
Văn học dân gian - văn học viết.
Văn học dân gian - văn học dân gian.
“Xu thờ ơ với chuyện đàn bà, day qua chuyện khác:
- Xứ này còn cái gì trôi nữa?
- À, có nhà trôi.
- Tụi cháu cũng mới đi coi nhà trôi đây, hay ho gì đâu, toàn người chết. Vụ rừng trôi nó làm sao?
[...]
- Hồi bảy tám tuổi thím còn thấy miếu trôi.
[...]
- Còn gì trôi nữa không?
- Kể tới tết Lào còn chưa hết. Sao không hỏi có gì không trôi không?
- Có cái gì không trôi?
- Đâu biết, vì ta đang trôi.”
(Nguyễn Ngọc Tư, Sông)
Nội dung không đúng khi nói về ý nghĩa của dòng sông trong đoạn trích trên:
Dòng sông biểu tượng cho sự trôi chảy, vô định của kiếp người.
Dòng sông mang theo nỗi buồn, sự mất mát trong cuộc sống.
Dòng sông đưa con người đến bến bờ hạnh phúc.
Dòng sông gợi lên sự tàn phai và vô thường của cuộc đời.
“Tôi thấy. Nhưng không phải ở một góc vườn sau, mà thấy cả những đám ruộng bạt ngàn hoa rau muống. Dường như, khi những cành rau muống đang oằn mình dưới cái nắng chang chang tháng ba thì những cánh hoa rau muống lại nở xòe ra… Nhìn đơn lẻ, từng cánh hoa có màu tím nhạt, nhưng ngắm cả một vạt đồng thì thấy sắc tím loang ra lấp lóa một màu trắng tím dưới ánh mặt trời. Nếu vừa chạy xe gắn máy vừa ngắm những vạt đồng hoa rau muống thì thấy thuần một màu trắng lóa ngợp mắt, đẹp nao lòng.
Rong ruổi tiếp đồng quê, tới đâu cũng thấy màu hoa rau muống, có khi bên cạnh những ruộng bắp đang ra hoa, có khi chen giữa những ruộng lúa đang trổ bông vàng trĩu, có khi dọc theo những con mương cạn nước… Hoa rau muống níu chân người bước lại gần để cùng ngồi trong thinh lặng, khoan thai. [...]
Nắng nôi càng khiến cho hoa rau muống thêm đẹp. Dĩ nhiên không ai hái hoa rau muống về chưng trong nhà. Vẻ đẹp của hoa rau muống là vẻ đẹp của đồng nội, là cái đơn sơ thầm lặng của người nhà quê. [...] Và, xin nói thêm một chuyện này, những người ở nước ngoài khi về quê rất muốn được ăn rau muống cho thỏa cơn thèm. Nhưng phải tìm những cọng rau muống “đèo”, tức những cành rau muống gầy nhỏ, mọc tự nhiên; cùng với đủ thứ rau dại khác làm thành một bữa canh rau tạp tàng ngọt mát đến tận tâm can.”
(Trần Nhã Thuỵ, Hoa rau muống)
Nội dung chính của đoạn trích là gì?
Miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên đồng quê.
Rau muống quen thuộc với khắp vùng quê Việt Nam.
Vẻ đẹp đơn sơ thầm lặng của hoa rau muống.
Hoa rau muống khiến người xa quê nhớ về quê hương.
Đoạn thơ sau kể về sự kiện gì?
“Thanh niên các xã lên đường
Đi Tây Bắc dựng nông trường, cuối năm.
Cái ngày làng xóm đưa chân
Còn vui hơn hội tòng quân năm nào.”
(Vũ Cao, Lên đường)
Cuộc hành quân qua vùng núi Tây Bắc.
Lần trở lại thăm vùng núi Tây Bắc.
Cuộc xuất hành đi xây dựng kinh tế Tây Bắc.
Cuộc khám phá vùng đất mới Tây Bắc.
Điền từ thích hợp vào chỗ trống để hoàn thành câu sau:
“Thơ văn Lý Trần mang âm hưởng __________, tràn đầy khí thế chiến đấu và tinh thần yêu nước mạnh mẽ.”
Hào kiệt.
Hào phóng.
Hào sảng.
Hào khí.
Từ nào viết sai chính tả trong các từ sau:
Huyễn hoặc.
Vĩnh viễn.
Hỗ trợ.
Vảng lai.
Câu nào dưới đây sai ngữ pháp?
Con người có thể bị huỷ diệt nhưng ý chí của họ không bị đánh bại.
Đọc một cuốn sách hay cũng như trò chuyện với một người bạn thông minh.
Với kết quả của năm học đầu tiên ở trường Trung học cơ sở đã động viên em rất nhiều.
Mọi điều phi thường đều được làm nên từ những điều bình thường nhỏ bé.
Xác định lỗi sai trong câu sau:
“Cô Tư quay cuồng vì một mình trông con khi ốm.”
Sai logic.
Thiếu thành phần câu.
Mơ hồ.
Sai dùng từ.
Xác định câu sai trong các câu sau:
Bà cụ đã yếu lắm rồi, bà tìm tay tôi và nắm lấy như muốn trăng trối điều gì.
Bà cụ đã yếu lắm rồi, bà tìm tay tôi và nắm lấy như muốn trối lại điều gì.
Bà cụ đã yếu lắm rồi, bà tìm tay tôi và nắm lấy như muốn trân trối điều gì.
Bà cụ đã yếu lắm rồi, bà tìm tay tôi và nắm lấy như muốn trối trăng điều gì.
Từ “đứt bữa” trong câu sau có nghĩa là gì?
“Nó bị đứt bữa đã hai, ba hôm nay rồi.”
Bữa đói bữa no.
Ăn uống không đúng giờ giấc.
Ăn uống đạm bạc.
Bữa có bữa không.
Chúng ta cần sử dụng tài liệu tham khảo như thế nào?
Chỉ cần thay đổi một vài từ ngữ mà không thay đổi nội dung.
Cần trích dẫn đầy đủ tài liệu tham khảo và ghi rõ nguồn.
Không cần trích dẫn vì mục đích học tập.
Không cần trích dẫn nếu không có ghi bản quyền.
Ý nghĩa của biện pháp chêm xen trong đoạn thơ sau:
“Thằng em thì hay hỏi
Không kể chuyện như anh
(Tuy con, má chẳng sinh
Con vẫn quen gọi má)
Má ơi ai sinh cá
Ai làm ra cái kem
Đêm sao lại màu đen
Ban ngày sao màu trắng?”
(Xuân Quỳnh, Cắt nghĩa)
Bổ sung thêm thông tin mà không làm đứt mạch kể.
Tạo sự liền mạch giữa các phần trong đoạn thơ.
Nhấn mạnh sự ngây ngô, hồn nhiên của trẻ em.
Làm nổi bật mối quan hệ gắn bó, yêu thương giữa mẹ và con.
Question 21 - 25
.Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi 21-25
Nhà thơ này yêu thôn quê một cách kì lạ, cái tình yêu ấy làm cho thơ anh, ở những câu bình dị nhất, vẫn có sức lôi cuốn, vẫn có cái duyên xao động lòng người. Dưới mắt anh, những cảnh sắc thật thông thường ở thôn quê cũng rất gợi cảm, đâu chỉ ánh trăng mới đẹp, mà cảnh mưa phùn gió bấc, hoa xoan, đường lầy hay nắng lửa trưa hè vẫn cứ làm ta xúc động, nhớ thương. Đó là tài năng của anh.
Giọng anh vừa cất lên, người ta đã nhận ra ngay hình bóng quê hương, làng mạc… Cách ăn nói nghĩ ngợi của bà con hàng xóm đã thấm vào Nguyễn Bính. Nhiều khi không hẳn là nghĩa chữ, ý câu mà chỉ bằng cái giọng nói, cái cách nói, Nguyễn Bính đã tẩm tâm hồn chúng ta vào trong hồn quê hương dân dã:
Viết cho chị lá thư này
Nửa đêm hăm bốn rạng ngày hăm nhăm.
(Xây hồ bán nguyệt)
Tầm tầm trời đổ cơn mưa
Đến hôm nay nữa là vừa bốn hôm.
(Người hàng xóm)
Lục bát là thể thơ sở trường của Nguyễn Bính, anh có khá nhiều câu đẹp như ca dao, khơi gợi kiểu ca dao:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào
(Tương tư)
Làm sao giấc ngủ không dài
Mà đêm không ngắn và trời cứ mưa
(Thư cho chị)
Tại sao dưới bút anh, những chữ đơn sơ, những cảnh bình thường lại có sức gợi cảm? Cái tài ấy sinh ra từ cách nhìn của anh, anh nhìn bằng tâm tưởng, anh thấy được những điều mắt thường ta không thấy. Một cái nhà ga Tường vàng, mái đỏ màu son ai cũng thấy. Nhưng nhà ga lại chứa linh hồn nhà ga thì riêng Nguyễn Bính mới nhìn ra được.
Đọc Nguyễn Bính, vì vậy, chúng ta được nhập vào hồn quê hơn là cảnh quê. Nói về cảnh thì Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ có nhiều chi tiết sắc và thực hơn, nhưng dựng được cái hồn quê thì chưa ai bằng Nguyễn Bính. Ngày nay, nông thôn ta đã đổi thay nhiều, cả phong cảnh lẫn hồn người, những câu thơ Nguyễn Bính như một dấu tích tâm hồn dân tộc sẽ nuôi lòng nhiều thế hệ bạn đọc.
(Vũ Quần Phương, Nhìn nhận lại một số hiện tượng văn học)
Luận đề của đoạn văn trên:
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính.
Hồn quê trong thơ Nguyễn Bính.
Hình ảnh trong thơ Nguyễn Bính.
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính.
Luận đề của văn bản được triển khai theo các ý chính nào?
Tình yêu thôn quê kỳ lạ của Nguyễn Bính; sử dụng thể thơ lục bát sở trường mang âm hưởng dân gian.
Thôn quê là nguồn cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Bính; sử dụng thể thơ lục bát sở trường gần với lời ăn tiếng nói dân gian.
Hình ảnh trong thơ Nguyễn Bính chủ yếu đến từ thôn quê; sử dụng thể thơ lục bát truyền thống.
Thơ Nguyễn Bính là hình ảnh quê hương, làng mạc; ngôn ngữ thơ bình dị với hồn quê hương dân dã.
Việc tác giả trích dẫn các câu thơ trong “Xây hồ bán nguyệt” và “Người hàng xóm” có tác dụng gì?
Nhấn mạnh sự phong phú trong thể thơ lục bát của Nguyễn Bính.
Chứng minh Nguyễn Bính có khả năng sáng tạo những câu thơ mang tính tự sự.
Làm nổi bật sự gần gũi và giản dị trong ngôn ngữ, giọng điệu của Nguyễn Bính.
Làm rõ tình yêu thôn quê của Nguyễn Bính qua từng chi tiết trong thơ.
Dòng nào sau đây không đúng với nội dung hoặc ý nghĩa tác giả muốn truyền tải?
Nguyễn Bính có khả năng tái hiện hồn quê qua những câu thơ giản dị, gần gũi.
Thơ Nguyễn Bính tập trung mô tả cảnh vật thôn quê một cách chi tiết, sinh động.
Tình yêu thôn quê của Nguyễn Bính thể hiện qua cả ngôn ngữ và cảm xúc trong thơ.
Thơ của Nguyễn Bính chứa đựng những giá trị tinh thần sâu sắc, gắn bó với tâm hồn dân tộc.
Việc sử dụng thao tác lập luận so sánh trong đoạn trích có ý nghĩa gì?
Nhấn mạnh sự khác biệt giữa Nguyễn Bính và các tác giả khác trong việc thể hiện hồn quê.
So sánh sự chi tiết trong miêu tả cảnh vật giữa Nguyễn Bính và các tác giả khác.
Làm nổi bật phong cách miêu tả sắc nét của các tác giả khác như Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ.
Làm rõ sự tương đồng giữa thơ của Nguyễn Bính và các tác giả khác trong cách thể hiện cảnh vật thôn quê.
Kết thúc nhóm câu Question 21 - 25
Question 26 - 30
.Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi 26-30
(1) Chạy dọc theo kênh Tàu Hủ, bến Bình Đông xưa còn được mệnh danh là “vựa gạo miền Nam” nhờ giao thông thủy lộ thuận tiện, cộng với cư dân bản địa và làng Minh Hương phát triển sầm uất, biến bến Bình Đông thành nơi hội tụ ghe thuyền đến từ khắp các tỉnh miền Tây và cả Nam Bộ, khiến khu vực này dần cực thịnh trong buôn bán và xuất khẩu lúa gạo. Việc chuyển gạo nơi vựa lúa miền Tây đến bến Bình Đông rất thuận tiện bằng ghe thuyền, bến bãi neo đậu dễ dàng trên kênh Tàu Hủ, kết hợp cùng chuỗi các nhà máy xay xát lúa gạo, chành (một phương ngữ của người Triều Châu, nghĩa là bến, bãi), kho chứa dọc đôi bờ kênh, khiến bến Bình Đông trở thành đầu mối giao thương trọng yếu của toàn vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.
(2) Dựa theo những ghi chép thì tên gọi kênh Tàu Hủ có khá nhiều lý giải. "Ký ức lịch sử về Sài Gòn và vùng phụ cận" của Trương Vĩnh Ký (Nguyễn Đình Đầu dịch, Nhà xuất bản Trẻ, 1994) ở trang 25 có đoạn: "Hai bên bờ rạch Chợ Lớn là hai dãy phố lớn bằng gạch gọi là Tàu khậu, để cho người Hoa từ Trung Quốc hàng năm đi ghe biển tới thuê. Họ đem hàng hóa chứa trong các phố đó, hoặc để bán sỉ, hoặc để bán lẻ khi lưu trú tại Sài Gòn". “Tàu khậu” ở đây là ngữ âm của người Triều Châu, nghĩa là “nhà gạch” (thổ khố), phương ngữ “tàu khậu" bị biến âm dần trở thành “tàu hủ”. Một lý giải khác cho tên gọi rất "chay tịnh” của dòng kênh này bắt nguồn từ hình dáng của dòng kênh có những đoạn thắt như cổ hũ, đọc lâu dần trại ra thành âm “tàu hũ, tàu hủ” như ngày nay.
(3) Nhắc đến bến Bình Đông, không thể không đề cập đến các kho, vựa - chành, nhà máy tên tuổi như kho Hữu Thành mênh mông tới sáu cửa, nhà máy xay lúa Phong Thanh với công suất lên đến 500 tấn/ ngày. [...]
(4) Còn về diện mạo phố xá, kiến trúc nhà ở đặc trưng ở bến Bình Đông mang hình thái thuộc địa với các chi tiết trang trí chạy chỉ nổi thạch cao, lan can sắt mỹ nghệ, ngói tây, cửa lá sách... công năng dùng để buôn bán giao thương (tầng trệt), còn tầng trên để cư ngụ. Các công trình nhà liên kế này do Hoa kiều Chợ Lớn bỏ vốn đầu tư và đơn vị thực hiện là các công ty xây dựng đến từ Singapore. Với sự phát triển của nhịp sống đô thị, cả bến Bình Đông hôm nay chỉ còn sót lại lác đác dãy nhà cổ liên kế gồm từng cụm ba gian, năm gian, bảy gian... nằm cách nhau một khoảng trống bằng với bề ngang của từng gian nhà gần chân cầu Máy Rượu.
(5) Qua thời gian, những cư dân gốc của dãy phố này cũng lần lượt ra đi, nay chỉ còn lại nhà xưa - chủ mới. Những khoảng trống giữa các dãy nhà được người đến sau tận dụng, xây nối thành những căn nhà phố mới với kiến trúc “phá bĩnh” - giữa các dãy mái ngói đỏ điểm xuyết một “gạch nối” là căn nhà hiện đại, mái đúc - chẳng ăn nhập gì với những căn nhà vốn mang nét cổ kính từ hàng trăm năm nay.
(Nguyễn Đình, Chuyện nhỏ ở Chợ Lớn)
Đoạn 2 triển khai nội dung theo cách nào?
Liệt kê đối tượng.
Trình tự thời gian.
Trình tự không gian.
Quan hệ nhân quả.
Việc tác giả sử dụng các dẫn chứng trong đoạn 3 có tác dụng gì?
Nêu lên đặc trưng về giao thông của bến Bình Đông.
Nêu lên đặc trưng về kinh tế của bến Bình Đông.
Nêu lên đặc trưng về sản xuất của bến Bình Đông.
Thể hiện quy mô nghề nghiệp của bến Bình Đông.
Thái độ của tác giả thể hiện trong đoạn 5 là gì?
Khách quan vì những kiến trúc mới dần thay thế các kiến trúc cũ.
Tiếc nhớ những kiến trúc xưa cũ ở bến Bình Đông.
Tiếc nuối những giá trị văn hóa xưa đang dần mai một.
Thích thú về sự thay đổi của bến Bình Đông hiện đại.
Tác động nào đối với người đọc không thể suy ra từ văn bản?
Trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống.
Nhận thức về những khó khăn của công tác bảo tồn văn hóa.
Hiểu về vai trò kinh tế của bến Bình Đông trong không gian Chợ Lớn.
Tiếc nuối trước sự đổi thay của bến Bình Đông xưa.
Nội dung chính của văn bản trên là:
Vị trí địa lý thuận lợi khiến bến Bình Đông trở thành trung tâm giao thương.
Vai trò kinh tế của bến Bình Đông trong không gian Chợ Lớn.
Sự đổi mới kiến trúc và đời sống của cư dân bến Bình Đông hiện nay.
Lịch sử phát triển của bến Bình Đông qua từng thời kỳ.
Kết thúc nhóm câu Question 26 - 30
Xem đáp án và bài mẫu
Answer key
Motif “chiến đấu giành lại vợ” là đặc trưng của dòng văn học nào?
Truyện thơ.
Thần thoại.
Sử thi.
Tuồng, chèo.
Giải thích câu 1
Giải thích chi tiết
✅ Đáp án: C. Sử thi.
🔎 Lí do: ✔️ Cần một thể loại văn học có quy mô lớn, nhân vật anh hùng và tình tiết xung đột, tức là một motif mang tính hành trình và chiến đấu. ✔️ Từ khóa: “chiến đấu giành lại vợ” — biểu hiện của cuộc chiến vì danh dự/tình yêu, hành trình và thử thách; những yếu tố này là điển hình của sử thi. ✔️ Sử thi thường có: nhân vật anh hùng, cuộc chiến hoặc hành trình lớn, mục tiêu phục hồi quyền lợi/danh dự (=> phù hợp với motif “giành lại vợ”); nên chọn Sử thi.
🚨 Những đáp án còn lại thì sao? ❌A. Truyện thơ.: Truyện thơ có kể chuyện bằng thơ nhưng không nhất thiết mang quy mô anh hùng, hành trình và xung đột cộng đồng như sử thi. ❌B. Thần thoại.: Thần thoại giải thích nguồn gốc, sự kiện siêu nhiên, tập trung vào thần linh và huyền thoại hơn là cuộc chiến anh hùng giành lại vợ của nhân vật nhân gian. ❌D. Tuồng, chèo.: Đây là loại hình sân khấu (biểu diễn) có thể dựng nhiều motif, nhưng bản chất là hình thức trình diễn chứ không phải thể loại văn học mang tính sử thi đặc trưng.


